Để có thể tóm lược nền kiến trúc của một quốc gia trong một bài viết là điều không thể, vì thế bài viết chỉ tóm lược một vài điểm chính, hy vọng các bạn sẽ có thêm những thông tin và kiến thức mới, đồng thời rất hoan nghênh việc đóng góp ý kiến làm phong phú và gia tăng độ chính xác cho bài viết.
Bài viết sẽ gồm những chủ đề nhỏ giới thiệu hết sức sơ lược về từng đặc điểm của kiến trúc Nhật Bản dựa trên kiến thức và ý kiến chủ quan của người viết, vậy nên để có thể trả lời câu hỏi “kiến trúc Nhật Bản là cái gì” thì tốt nhất mỗi người nên tự tìm hiểu và có cho mình một câu trả lời riêng, bài viết chỉ đơn giản là một chương trong hành trình tìm hiểu của các bạn mà thôi.
Mục lục:
A. Tạo cái riêng trong cái chung
B. Gỗ
C. Bóng tối
D. Gián tiếp
E. Hẹp và thấp
F. Chiếc hộp rỗng
G. Wabisabi và Mono no Aware
Và không để mất thời gian của mọi người, bài viết mở đầu Blog sẽ được bắt đầu ngay với câu hỏi
“Vậy kiến trúc Nhật Bản là cái gì ta?”
—————————————————————————————–
A. Tạo cái riêng trong cái chung
Để có thể dễ hình dung về kiến trúc “Nhật Bản” mà mọi người vẫn thường hay nhắc đến, ta có thể chia kiến trúc Nhật Bản ra thành 4 thời kỳ một cách tương đối như sau:
- Kiến trúc bản địa Nhật Bản
- Thời kỳ chịu ảnh hưởng của Trung Quốc (bắt đầu từ thời kỳ Asuka thế kỷ 6)
- Thời kỳ chịu ảnh hưởng của phương Tây (bắt đầu từ thời kỳ Minh Trị thế kỷ 19)
- Thời kỳ lan toả ảnh hưởng ra thế giới (bắt đầu từ Tokyo Olympic 1964 và Osaka World Expo 1970)
Có thể thấy, khi người ta nói về kiến trúc Nhật Bản, họ thường chủ yếu nói về thời kỳ thứ 4 và một vài yếu tố của thời kỳ thứ 2 mà quên hẳn những công trình “nhà sàn” hay đào hầm đắp đắt của thời kỳ 1, hoặc nền kiến trúc thể hiện chủ nghĩa dân tộc, đế quốc của thời kỳ 3. Ngoài việc có quá ít thông tin được ghi chép ở giai đoạn đầu tiên, ở thời kỳ thứ 2, nước Nhật cũng giống như nhiều nước khác trong khu vực, vừa tiếp thu kỹ thuật xây dựng và phong cách kiến trúc của Trung Quốc, vừa sáng tạo ra thứ kiến trúc của riêng mình, hay còn gọi là tạo cái riêng trong cái chung (cái chung ở đây là nền kiến trúc Trung Hoa cổ đại).
Tương tự như vậy, ở thời kỳ thứ 3 – chịu ảnh hưởng của văn minh phương Tây, họ vẫn hấp thu và sáng tạo ra thứ kiến trúc của riêng mình. Nhưng thành quả của quá trình này bị vùi lấp bởi bóng ma của chiến tranh, nó bị coi là tàn dư của chủ nghĩa dân tộc cực đoan sau chiến tranh và trở thành con ghẻ của giới kiến trúc khi bước vào thời kỳ chủ nghĩa hiện đại (modernism). Điều này trái ngược hoàn toàn với cái nhìn tích cực không chỉ của người Nhật mà còn của các quốc gia khác trên thế giới về “cái riêng” được sáng tạo ra trong thời kỳ chịu ảnh hưởng của Trung Quốc bởi lẽ nó mang đậm chất Phương Đông (Oriental).
Quay trở lại với Tokyo Olympic 1964, kỳ Olympic đáng ra đã được tổ chức tại Nhật 20 năm trước nhưng bị trì hoãn do chiến tranh. Sau khi cự tuyệt với lối kiến trúc đế quốc và đã có một khoảng thời gian nhất định hấp thu chủ nghĩa hiện đại bấy giờ đang lan toả, cái riêng của kiến trúc Nhật Bản lại được thể hiện với công trình nhà thi đấu quốc gia Yoyogi, gây tiếng vang lớn, và là một công trình hoàn hảo giới thiệu một Nhật Bản “mới” sẵn sàng hồi quy về với thế giới sau chiến tranh. Làn sóng “đưa Nhật Bản ra với thế giới” này được đẩy lên cao trào tại Osaka Expo 1970 với việc các kiến trúc sư tiên phong của Nhật lúc bấy giờ giới thiệu trào lưu Metabolism (chuyển hoá luận) với quốc tế, đưa Nhật Bản lần đầu tiên ngang hàng với các quốc gia phương Tây cả về lý luận lẫn thực hành. Sự kiện này có ảnh hưởng sâu rộng cả về không gian (lan toả ra quốc tế) lẫn thời gian (đến tận ngày nay ta vẫn có thể nhìn thấy ảnh hưởng của nó).
Có thể nói, giống như mọi lĩnh vực khác tại Nhật, quá trình hấp thu cái chung và sáng tạo cái riêng là bản chất cơ bản của nền kiến trúc Nhật Bản.






B. Gỗ
Tính đến cuối năm 2003, Nhật Bản có 3844 công trình văn hoá quan trọng (重要文化財) trong đó gần 90% các công trình được xây dựng bằng gỗ. Nhật Bản là quốc gia sử dụng gỗ và chắc chắn không phải quốc gia duy nhất sử dụng gỗ, đặc biệt là trong nền văn hoá Á Đông khi tất cả cùng sử dụng gỗ. Tuy nhiên kỹ thuật xây dựng gỗ của người Nhật có sự khác biệt với các quốc gia khác trong khu vực.
Nếu như người Việt có nhiều loại gỗ cứng như gỗ Lim (Ironwood) thì người Nhật có Liễu sam (すぎ) hoặc gỗ Bách (ヒノキ) nhẹ và mềm dẻo hơn. Nếu như người Việt cần một kết cấu khung xương đơn giản và nhẹ nhàng có thể dễ dàng xây dựng lại sau chiến tranh thì người Nhật cần những khớp nối có tính linh động, có thể di động để chống chịu động đất. Nếu như người Việt cần một hệ mái thoải để tránh gió vào mùa bão thì đôi lúc người Nhật cần hệ mái dốc để tránh tuyết đọng và tận dụng không gian lửng dự trữ lương thực vào mùa đông. Do đó sẽ không có chuyện ai giỏi hơn ai, mỗi dân tộc, dựa vào văn hóa, hoàn cảnh lịch sử, tự nhiên, địa lý, tập tục sinh hoạt mà họ phát triển cho mình một hệ ngôn ngữ kiến trúc riêng.
Gỗ không chỉ là vật liệu xuyên suốt trong lịch sử xây dựng mà còn là vật liệu định hình văn hoá Nhật Bản. Sẽ không thể kể hết những vật dụng mang tính biểu tượng của văn hoá được chế tác bằng gỗ, bản thân gỗ, dù mang bất cứ hình dạng gì đều gợi nhớ hình ảnh của quá khứ và truyền thống đối với người Nhật.
Tuy nhiên, kể từ sau khi Mỹ sử dụng bom cháy phá huỷ hơn một nửa Tokyo (lúc bấy giờ được xây chủ yếu bằng gỗ), gỗ dần mất đi vị thế của nó sau chiến tranh, cùng với đó Nhật trở thành một trong những quốc gia sản xuất và tiêu thụ beton lớn nhất trên thế giới, và người Nhật lại bắt đầu cuộc hành trình mới, tìm kiếm bản sắc trong những vật liệu hiện đại như beton, kính và sắt. Gỗ vẫn là vật liệu phổ biến được sử dụng làm kết cấu, kiến trúc cho các công trình quy mô nhỏ, nhưng ở các công trình công cộng hoặc quy mô lớn hơn, nó dần trở thành vật liệu trang trí nội thất, ngoại thất, được sử dụng khi người thiết kế muốn có một chút “truyền thống” trong công trình. Mặc dù vậy, ngay cả việc sử dụng gỗ một cách đơn giản như vậy thậm chí cũng đang dần bị thay thế bởi công nghệ in bề mặt, tạo nên những tấm dán công nghiệp, nhanh, rẻ, dễ thi công và quan trọng là đáp ứng được những quy định khắt khe về phòng hoả của Nhật.
Hiện nay, các công ty xây dựng lớn của Nhật cũng đang có những kế hoạch cho việc sử dụng gỗ trở lại vào các công trình xây dựng khi cả 5 nhà tổng thầu hàng đầu đều có bộ phận thiết kế gỗ và gần đây phát biểu rất nhiều những dự án sử dụng gỗ làm kết cấu chính cho tương lai. Hãy chờ xem liệu gỗ có trở lại là nhân vật chính trong cuộc đua về kiến trúc bền vững như xu hướng đang diễn ra tại các nước Bắc Âu không nhé.




C. Bóng tối
Tanizaki trong tác phẩm 「Ngợi ca bóng tối」 (陰影礼賛) đã đưa ra luận điểm rằng, người Nhật và không gian của người Nhật được tạo ra để cho bóng tối. Ông viết tác phẩm này trong bối cảnh nước Nhật đang bị “xâm chiếm” bởi văn minh phương Tây với đèn điện và các thiết bị tiện ích cho đời sống thường ngày khác.
Đối với ông, tất cả những thứ đó vô cùng tiện lợi, nhưng đi kèm với nó, những vẻ đẹp mà đáng ra có thể cảm nhận được rõ nét hơn nếu không có thứ ánh sáng nhân tạo vô hồn đó, như vẻ đẹp của trăng trong màn đêm, những lớp màu nổi trên những bức hoạ Maki-e, hay món súp được nấu trong những cái bát sâu lòng không nhìn thấy đáy bởi bóng tối. Ông tiếc nuối rằng, Nếu người Nhật, thay vì phương Tây, là những người nắm giữ kỹ thuật của thời đại mới, có lẽ họ sẽ tạo ra một nền văn minh thân thiện hơn với văn hoá của người Nhật.
Do vậy, ta chỉ có thể nhận biết ánh sáng một khi có bóng tối.
Nếu như ánh sáng tự nhiên trong kiến trúc phương Tây được xem như một người vận chuyển thông điệp tôn giáo, được diễn tả một cách tinh khiết và đến từ phía bên trên, thì với kiến trúc phương Đông, nó lại là sự khuếch tán từ tự nhiên, len lỏi qua các các lớp không gian cây cỏ bên ngoài và hoà lẫn vào bên trong công trình theo chiều ngang.
Khác với phương Tây, ở Nhật, ánh sáng không phải là yếu tố thần thánh, cũng như bóng tối không phải là nơi sản sinh ra quỷ dữ. Amaterasu – thần mặt trời, và là vị thần tối cao trong tín ngưỡng thần đạo của Nhật Bản, thì Daikokuten là thần bóng tối nhưng cũng là vị thần của sự thịnh vượng, giàu có và may mắn.
Nếu như người phương Tây cố gắng cải tạo và sử dụng kỹ thuật để xua đi bóng tối thì người Nhật hay nói rộng hơn là phương Đông, coi bóng tối là một yếu tố tạo lập sự cân bằng bắt buộc phải có như là yin-yang vậy.


trong các công trình truyền thống của Nhật
D. Gián tiếp
Cũng giống như ngôn ngữ, kiến trúc Nhật Bản là kiến trúc của sự gián tiếp. Dù nằm trong nền văn hoá Á Đông “nhà cao cửa rộng” của Trung Hoa, nhưng cửa vào của các công trình tại Nhật thường được giấu rất kín, đôi khi được che phủ bởi thực vật, đôi lúc lối vào được bố cục theo đường zigzag, đôi lúc lại được che bởi những tấm màn vải Noren (暖簾) thường thấy trước các tiệm ăn, cửa hàng để cản tầm nhìn trực tiếp vào phía bên trong, đồng thời tạo sự bí ẩn, mời gọi. Không gian bên trong các căn nhà quý tộc thì cũng thường được phân chia bởi các tấm bình phong (屏風).
Nếu so sánh với bố cục của Tử Cấm Thành hoặc thành cổ Kyoto vốn được quy hoạch dựa trên nguyên lý của Trung Hoa, các công trình thành quách và cố cung khác của Nhật thường không có bố cục đối xứng, không có đường trục chính, mặt bằng cung điện trông như một thể “hữu cơ” không được quy hoạch từ đầu, rất khó xác định không gian chính phụ, và tất cả các không gian được nối với nhau một cách liên hoàn.




E. Hẹp và thấp
Nếu như người phương Tây ngồi ghế, người Việt ngồi sập thì người Nhật ngồi đất. Chính thế giới quan về chiều cao này tạo nên toàn bộ sự khác biệt trong không gian công trình của 3 nền văn hoá. Chính vì ngồi đất nên chiều cao sàn trần của các căn nhà Nhật rất thấp, không có bậc thềm giữa cửa Shoji và Engawa (hiên ngoài) để loại bỏ thứ cản trở tầm nhìn ra thiên nhiên. Để phục vụ cho không gian hẹp và thấp đó, đệm Futon và Zabuton, bàn Kotatsu, không có vật dụng nào có chiều cao quá đầu gối, nhỏ gọn, dễ dàng cho sự vận chuyển thay đổi không gian trong căn phòng.
Mô hình 51c năm 1951 đánh dấu những nỗ lực đầu tiên trong việc chuyển đổi giữa không gian ở truyền thống và hiện đại (51c là mô hình hộ cá thể ra đời trong hoàn cảnh nước Nhật thiếu nhà ở sau chiến tranh và cần một không gian có thể sản xuất nhanh chóng với số lượng lớn mà vẫn đảm bảo tập quán sinh hoạt của người Nhật). Chuyển từ ngồi đất sang ngồi ghế, chuyển từ ngủ ở phòng ăn sang ngủ ở phòng riêng, chuyển từ ngủ chung sang ngủ riêng giữa bố mẹ và con cái. Đây cũng là thời kỳ mà các khái niệm LDK bắt đầu được ra đời và phổ biến, cũng là thời điểm không gian linh hoạt truyền thống được thay bằng những căn phòng có chức năng riêng biệt.
Tuy nhiên bằng một cách nào đó, không gian nhỏ hẹp được tính bằng chiếu Tatami và hệ chiều cao sàn trần truyền thống vẫn tiếp tục được sử dụng trong các không gian “hiện đại” này như một cách để giữ lại truyền thống (hoặc duy trì?). Và kết quả là người Nhật lại tiếp tục tạo ra được thứ riêng mới, là những căn hộ chung cư cho hộ gia đình chỉ 40㎡ và hơn 10㎡ cho cá nhân không giống ai.

F. Chiếc hộp rỗng
“Một cái bát trở nên hữu dụng nhất khi nó trống rỗng”. – Lão Tử
Với một căn phòng trong căn nhà truyền thống của Nhật, khi ta trải 1 tấm futon thì nó trở thành phòng ngủ, đặt một chiếc kotatsu thì nó trở thành phòng sinh hoạt chung, một vài cái đệm zabuton và mấy cốc trà thì nó trở thành phòng khách, tháo toàn bộ hệ cửa Shoji ngăn giữa các phòng thì ta có một không gian lớn cho hoạt động cộng đồng. Không có một công năng cố định cho những căn phòng này.
Ở điểm này, có thể nói không gian truyền thống Nhật Bản có tuổi đời cả nghìn năm có sự tương đồng ngẫu nhiên với cấu trúc khung xương của kiến trúc hiện đại, khi mà không gian được làm ra để đáp ứng linh hoạt với sự chuyển đổi công năng của công trình. “Mặt bằng tự do” hay văn phòng “mở” thực ra đã tồn tại trong kiến trúc Nhật bản từ lâu.
Đó cũng là lý do mà vào những năm 1950, khi mà cuộc tranh cãi về kiến trúc truyền thống và hiện đại được đẩy lên cao trào trong giới kiến trúc (伝統論争) Kawazoe – tổng biên tập tạp chí Tân Kiến Trúc (新建築) nổi tiếng của Nhật đã đăng một loạt số tập chí với ảnh bìa là kiến trúc của các công trình cổ nổi tiếng của Nhật với hàm ý rằng “không phải tìm đâu xa cả, kiến trúc hiện đại đã hiện diện sẵn trong kiến trúc truyền thống Nhật Bản từ trước rồi”.

Có vô số cách kiến tạo không gian chỉ bằng việc di chuyển những bức vách này
G. Wabisabi và Mono no Aware
Cuối cùng, không thể không nói đến mỹ học trong kiến trúc. Mỗi dân tộc có một cách đánh giá cái đẹp của riêng mình, thứ mà chúng ta quan niệm là đẹp và xấu trong cuộc sống thường ngày, tác động trực tiếp đến nghệ thuật, văn hoá, xã hội, và kiến trúc cũng không phải là ngoại lệ. Hiểu một cách đơn giản nhất (vì thực ra tác giả cũng chưa hiểu rõ lắm) Wabisabi hay Mono no Aware là vẻ đẹp của khoảnh khắc, là sự thức tỉnh về giá trị của sự vật trong hiện tại để trân trọng nó, dù biết rằng rồi một ngày nó sẽ tàn lụi như vạn vật trong tự nhiên.
Sẽ không phải là điều bất ngờ khi những khái niệm này đều có nguồn gốc từ Phật giáo, và được tìm thấy ở tất cả các phạm trù văn hoá khác của Nhật. Ichigo ichie cũng là một cách biểu hiện khác của khái niệm này.

Hoa Đào và lễ hội ngắm hoa Hanami là một nét văn hóa tinh tế nhắc nhở cho người Nhật trân trọng giá trị của khoảnh khắc trong cuộc đời
“Vẻ đẹp khoảnh khắc” là giá trị cốt lõi trong mỹ học phương Đông nói chung và Nhật Bản nói riêng. Nó đối lập với “vẻ đẹp hoàn hảo”, “trường tồn” thường được sử dụng trong mỹ học phương Tây.
Đó là lý do những hầm mộ lăng tẩm đền thờ ở phương Tây được xây bằng đá thay vì gỗ. Đó là lý do kim tự tháp được xây dựng để đứng vững hàng ngàn năm, còn thần cung Ise thì được xây lại mỗi 20 năm một lần. Đó cũng là lý do những câu chuyện kiểu như “happily forever after” thường không xuất hiện trong văn học và phim ảnh Nhật Bản mà thay vào đó là những cuộc chia ly day dứt và không trọn vẹn.
Thứ kiến trúc mang tính thời điểm, sự vận động và tái sinh liên tục này cũng chính là chủ đề chính xuyên suốt mà trào lưu Metabolism (chuyển hoá luận) đề xuất, chúng ta sẽ cùng trao đổi trong các bài tiếp theo.
—————————————————————————————
Chắc chắn sẽ có rất nhiều thiếu sót cho một sự khởi đầu và sẽ cần nhiều hơn những bài viết để nói cụ thể về từng khái niệm riêng biệt được đưa ra trong và ngoài bài. Hy vọng bài viết đã cung cấp cho các bạn một phần nào cái nhìn tổng quát về nền kiến trúc Nhật Bản từ quá khứ tới hiện tại.
– Tuan Nguyen Quang –