Một vòng quanh Tokyo (2)

Vì một vài lý do cá nhân (mà chủ yếu là lười) nên vòng thứ 2 này tốn hơi nhiều thời gian, nhưng dù sao thì nó cũng đã được hoàn thành, bài viết lần này có độ dài cũng tương đương với khoảng thời gian làm ra nó nhưng chỉ gồm 2 chương chính về lịch sử và không gian xanh của Tokyo.

Tiếp nối nội dung bài của lần trước, lần này thay vì những thứ hữu hình có thể nhìn và sờ nắn, chúng ta đến với một vài đặc điểm khó nhận thấy hơn, nhưng cũng đóng góp to lớn trong việc hình thành hình ảnh hiện tại của Tokyo.

————————————————————————————————————

4. Ngôi làng Tokyo – Sự chồng lấn của các lớp lịch sử

Các công trình nằm ở phía ngoài block được xây bằng Beton để bảo vệ khu dân cư cũ bằng gỗ ở bên trong trong trường hợp đám cháy xảy ra và lan từ các ô block bên cạnh sang, một bài học từ thảm họa động đất vùng Kanto 1923 – tạo thành những “ngôi làng” cục bộ trong đô thị (Tokyo Metabolizing)

Cựu chủ biên tạp trí Tân Kiến Trúc 新建築 Kawazoe Noboru từng tóm tắt về cấu trúc đô thị Tokyo trong quyển sách nổi tiếng「東京の原風景」rằng: “Tokyo giống như một ngôi làng lớn”.

Kiến trúc sư Hara Hiroshi, người có cuộc hành trình và nghiên cứu hàng trăm ngôi làng trên khắp thế giới thì đưa ra nhận xét trong cuốn「集落の教え100」: “chồng chất và kết hợp là nguyên lý cơ bản của các ngôi làng.”

Theo một cách đại khái, kết hợp 2 điều này ta có Tokyo.

Nếu ở Hà Nội hay nhiều thành phố khác của Việt Nam, “làng xã” được biểu hiện thông qua tập quán, lối sinh hoạt của người dân và những điểm tuyến quy mô nhỏ, như quán nước đầu ngõ, chợ, nhà thờ họ, cổng xóm thay cho cổng làng, ở chung cư thì vẫn chạy sang nhà nhau mượn mắm muối xong chảo, đốt bếp than tổ ong …etc thì với Tokyo “làng xã” lại nằm trong các lớp địa hình, context lớn và trừu tượng hơn.

Cấu trúc làng xã từ thời Edo không bị xáo trộn nhiều dù trải qua thiên tai và chiến tranh thảm khốc, mà chỉ được chồng lấn và thay đổi trên chính khu đất cũ nhờ vào văn hóa bảo tồn mảnh đất hơn là công trình. Nhờ đó mà trong hầu hết các trường hợp, ta có thể đọc được lịch sử của Tokyo thông qua các lớp chồng lấn, công năng và cấu trúc của các khu đất, từ những đơn vị không gian lớn nhất trong đô thị là các công viên, đến các đơn vị không gian nhỏ nhất là các công trình nhà ở đơn lập.

Bắt đầu từ một trong những cấu trúc đô thị lớn nhất là hệ thống các công viên. Mỗi công viên ở Tokyo đều có cho mình một câu chuyện riêng, trong hầu hết các trường hợp, các công viên được hình thành từ lịch sử chứ không phải dựa trên một mớ lý thuyết quy hoạch cấp tiến đơn thuần nào đó (mặc dù lúc thực thi thì hiển nhiên phải dựa trên một thủ pháp thiết kế nhất định nào đó rồi) khiến mỗi công viên có hình dạng, nội dung và cấu trúc độc nhất.

Tỷ dụ, công viên Ueno có rất nhiều bảo tàng, Meiji thì có đền Minh Trị, Hamarikyu thì có vườn tược kiểu cung đình truyền thống, Yoyogi thì có một bãi đất rộng, Odaiba thì có những hòn đảo công viên vuông vức và trơ trọi giữa biển etc… Lý do là gì ta?

Công viên Ueno – nơi tập trung 6 bảo tàng quan trọng bậc nhất của Tokyo, bao gồm Bảo tàng quốc gia Tokyo, Bảo tàng nghệ thuật phương Tây (di sản văn hóa thế giới được thiết kế bởi Le Corbusier), Bảo tàng quốc gia về khoa học và tự nhiên, Bảo tàng nghệ thuật trung tâm Tokyo, Bảo tàng hoàng gia Ueno và Bảo tàng Shitamachi, ngoài ra không thể không nói tới vườn thú Ueno và Hội quán văn hóa Tokyo do Maekawa Kunio – học trò của Le Cobusier và cũng là một trong những kiến trúc sư có ảnh hưởng bậc nhất Nhật Bản đầu thế kỷ 20.
Trước kia, nơi đây là phần đất thuộc về đền Kanei (ngày nay quần thể chùa tháp (phiên bản được di chuyển từ Kawagoe về) vẫn có thể được nhìn thấy trong công viên) là một trong tứ trấn, ngăn năng lượng xấu từ phía Bắc tới lâu đài Edo – đóng vai trò tương tự như đền Quán Thánh ở Hà Nội).
Tuy nhiên phần lớn khu vực này đã trở thành bãi chiến trường cuối thời kỳ chiến tranh Bosshin giữa Mạc Phủ và triều đình trong trận Ueno năm 1868
Bình địa tại công viên Ueno sau cuộc chiến, như một motif quen thuộc tại Nhật, sự phá huỷ luôn là tiền đề cho sự tái sinh và phát triển mạnh mẽ hơn.
Ueno dưới thời Minh Trị được hồi sinh như một biểu tượng hòa bình và sự khai sinh của một thời đại mới, nó trở thành công viên công cộng đầu tiên của Nhật Bản, nơi xúc tiến các hoạt động khoa học kỹ thuật với 3/5 cuộc triển lãm khoa học công nghiệp đầu thế kỷ 20 của Nhật Bản đã được diễn ra tại Ueno
Ngày nay Ueno đã trở thành một điểm đến quen thuộc cho người dân Tokyo vào cuối tuần mỗi khi không có chỗ để đi và chẳng có việc để làm

Ở một scale hẹp hơn một chút có thể kể đến là các quần thể công trình có mức độ tương tác đô thị cao như khu vực hoàng cung, các trung tâm tài chính ở Shinjuku, Shibuya, Ginza, Ikebukuro …etc

Tỷ dụ, khu trung tâm hành chính kinh tế Shinjuku tập trung hàng loạt các tòa nhà cao tầng được xây dựng liên tục trong giai đoạn phát triển kinh tế thần kỳ của Nhật Bản. Nơi có tỷ lệ dân cư người nước ngoài (đa số là châu Á) cao nhất Nhật Bản, cũng tình cờ là nơi có khu vực Nishi Shinjuku được ra đời theo đúng nghĩa là cấy các khối lớn ngoại lai vào đô thị hiện trạng mà không có nhiều những sự kết nối đến cộng đồng hiện hữu.

Trung tâm tài chính – chính trị tại Nishi Shinjuku – nơi đặt tòa thị chính Tokyo là đầu não của vùng Kanto nơi chiếm 1/3 dân số toàn nước Nhật

Khác với những dự án tái phát triển đô thị truyền thống, khi một kết cấu lớn được cấy vào một khu vực dân cư có cấu trúc truyền thống, ta vẫn có thể thấy sự đứt đoạn giữa kết cấu mới hiện đại và các khu vực dân cư cũ, các công trình cao tầng nằm xen kẽ giữa những công trình văn phòng, nhà dân thấp tầng hơn, tuy nhiên điều này gần như không xảy ra tại khu vực Nishi Shinjuku, lý do là bởi khu vực này xưa kia vốn không phải là một vùng dân cư.

Mà là nhà máy xử lý nước khổng lồ có diện tích lên đến 340,000m2 – bằng tổng diện tích của khoảng 45 sân bóng đá tiêu chuẩn
Nó tồn tại từ thời Minh Trị trong suốt 70 năm trước khi dừng hoạt động vào 1965 và được thay mới bằng một nhà máy xử lý khác gần thượng nguồn hơn (sông Tama) để lấy đất phát triển đô thị cho khu vực Shinjuku. Khách sạn Keio Plaza 1971 là công trình đầu tiên khởi đầu cho làn sóng xây dựng các công trình cao tầng tại khu vực Nishi Shinjuku.
Các cao ốc văn phòng và khách sạn liên tục được xây dựng trong suốt khoảng thời gian này, xen giữa vào đó là sự xuất hiện của tòa thị chính Tokyo thiết kế bởi Tange Kenzo 1991 đã làm cho Nishi Shinjuku trở thành một trong những trung tâm tài chính, hành chính quan trọng bậc nhất của Tokyo.

Ở quy mô nhỏ hơn là các ô block. Các phân vùng dân cư này có xu hướng được chia nhỏ theo thời gian do áp lực về dân số và diện tích. Lượng người đổ về trung tâm ngày càng đông, trong khi diện tích đất thì không tăng lên, cách duy nhất để có thêm không gian là chia nhỏ diện tích sử dụng, và chồng chất các công năng nếu có thể (đất nhân tạo trên không là một giải pháp hiệu quả cho các không gian công cộng đã được đề cập trong bài trước).

Ngoài ra, khu đất càng lớn, thuế thừa kế càng cao, sự già hóa dân số dẫn đến những hộ gia đình chỉ có một người thừa kế duy nhất, không đủ khả năng để trả thuế thừa kế, và kết quả là khu đất lại tiếp tục được chia nhỏ để bán cho những cá nhân, tập thể có nhu cầu xây dựng nhà ở và các công năng liên quan khác.

Điều này đã làm cho Tokyo trở thành một trong những đô thị có mật độ dân số rất cao trên thế giới (6158ng/km2 so với 2300ng/km2 của Hà Nội) và có sự chồng lấn về công năng vô cùng thú vị.

Sự phân chia giống như tế bào của một ô đất tại khu vực Okusawa Tokyo (Metabolizing: Tsukamoto, Kitayama, Nishizawa Ryue)
Tiến trình phát triển này được nhóm 3 kiến trúc sư Tsukamoto, Kitayama, Nishizawa Ryue chia thành 3 thế hệ.
Theo thời gian, ô đất bị chia nhỏ, nâng tầng, gia tăng mật độ, mất dần các khoảng xanh và “cá nhân hóa” với các căn hộ đóng kín với thế giới bên ngoài (Metabolizing: Tsukamoto, Kitayama, Nishizawa Ryue)
Cộng đồng những người lớn lên cùng nhau từ tấm bé được thay thế bằng những người đến từ khắp nơi, ngăn cách với nhau bằng những tấm cửa sắt lạnh lẽo và hầu như không có sự liên hệ nào với nhau ngoài việc sử dụng chung hành lang và cầu thang để đi làm buổi sáng và trở về khi trời tối
Tiến trình thay đổi này được phản ánh qua nhiều lĩnh vực văn hóa khác nhau như phim ảnh, truyện tranh ..etc. Điển hình là bộ manga Sazae-san (là bộ manga dài nhất còn được chuyển thể và phát sóng đến ngày nay) sáng tác vào thập niên 1940 với bối cảnh căn nhà của gia đình tam đại đồng đường Sazae là căn nhà thế hệ 1
Doraemon của thập niên 1970, nhà của Nobita là điển hình của những căn nhà thế hệ 2, lúc này quy mô gia đình được rút xuống là gia đình hạt nhân 2 thế hệ với bố đi làm, mẹ ở nhà nội trợ và 2 đứa con (1 đứa là người 1 đứa là mèo)
Căn hộ tập thể Apartment trong Clannad 2004 là điển hình cho những căn nhà thế hệ 3, đây cũng là thời kỳ các nhân vật chính thường được diễn tả là sống một mình trong các căn hộ apartment đại diện cho sự lên ngôi của xã hội độc thân tại Nhật, motif này phủ sóng hầu hết các bộ manga suốt từ sau đó cho đến ngày nay.

Dòng chảy “cô độc” này đã đặc biệt thống trị đời sống Nhật Bản kể từ sau khi bong bóng kinh tế bị vỡ năm 1986, và sự già hóa dân số là một trong những hậu quả lớn nhất mà làn sóng này để lại. Share house, Social Apartment …etc là câu trả lời từ các nhà phát triển bất động sản cho bài toán cô độc của các căn nhà thế hệ 3, còn với các kiến trúc sư, mỗi người đều đưa ra phương án giải quyết của riêng mình, nhưng tựu chung tất cả đều góp phần hình thành làn sóng “làm trong suốt” và “kết nối” trong kiến trúc Nhật Bản nửa đầu thế kỷ 21.

Một trong những concept đề xuất về nhà ở thế hệ 4 (Phục hồi sự kết nối cộng đồng・Gia tăng cơ hội được sử dụng không gian bên ngoài・Tái định nghĩa những khoảng trống giữa các công trình) của Nishizawa Ryue đề xuất nhằm giải quyết những vấn đề mà nhà ở thế hệ 3 tạo ra.
Những công năng thường được đặt dưới một mái nhà được phân chia thành nhiều “hộp” nhỏ hơn và tạo thành một không gian “cộng đồng” nội bộ bên trong công trình.
Không gian “bên ngoài” trở thành không gian hành lang “bên trong” khi để di chuyển từ một công năng này sang công năng khác, người ta phải đi ra “ngoài”
Moriyama house là một trong những công trình tiêu biểu nhất định hình xu hướng “xóa mờ ranh giới” của kiến trúc Nhật Bản đầu thế kỷ 21.
Công trình trở nên nổi tiếng đến mức google map đã phải làm mờ nó trên street view để tránh những cặp mắt tò mò của những du khách hiếu kỳ, nhưng điều đó cũng vô tình làm cho nó trở nên dễ nhận biết hơn với những kẻ muốn tìm (như mình).
Một phiên bản tương tự được thấy tại Việt Nam là công trình House for trees của VTN – 2014, tuy nhiên concept có lẽ không phải là định nghĩa lại không gian trong và ngoài mà là
Tạo “sân trong có cây xanh” cho cả một ô block (sân trong trong nhà ống truyền thống thường là nơi có cây và gió, nhưng chỉ có tác động vi khí hậu trong phạm vi căn nhà, nhưng khi bản thân cả công trình trở thành một vườn hoa, nó sẽ tạo hiệu ứng tích cực cho cả ô block, đó có lẽ cũng là ý đồ của VTN người luôn nhấn mạnh sự theo đuổi kiến trúc xanh và công việc phủ xanh đô thị của mình)

Xu hướng chia nhỏ này thường xảy ra tại phân vùng quy hoạch nhà thấp tầng cấp 1 của Nhật, còn tại những khu vực quy hoạch cho phép xây dựng với quy mô lớn và gần trung tâm (là các nhà ga), người ta tìm đến những thứ “đẳng cấp” và tiện nghi hơn, những khu vực trước đây bị chia nhỏ để có đất cho nhiều người nhất có thể, nay lại bị gộp lại để tạo thành những ô block lớn cho những người đủ điều kiện, hình thành làn sóng đối nghịch với sự tái phân chia, đó là “sang chảnh hoá” trong đô thị (Gentrification).

Một khu vực gần ga Musashi Kosugi nằm trong diện tái phát triển đô thị, toàn bộ nhà dân và văn phòng lẻ tẻ, nhỏ nhặt và tản mạn trong khu vực này được gom lại thành một cục
Cho một tòa tháp + một trung tâm mua sắm + một quảng trường công cộng
Kết quả là liên kết dân cư “hữu cơ” truyền thống, nhỏ hẹp với một cộng đồng gắn kết được thay bằng một tòa tháp sáng bóng và một quảng trường xanh mát với nhiều những con người không quen biết nhau (lý thuyết là vậy, thực tế thì việc có được một cộng đồng mới khỏe mạnh hay không còn phụ thuộc rất lớn vào từng cá nhân trong cộng đồng đó)

Có thể kể đến rất nhiều những dự án tái phát triển đô thị kiểu này như Comore Yotsuya, Nonoa Aoyama, Musashi Kosugi 3 Chome…etc. Dù vậy, những lớp cấu trúc “làng xóm” truyền thống không bị biến mất hoàn toàn, mà thường được các kiến trúc sư diễn giải nó theo một cách khác trong quá trình thiết kế để có thể làm hài lòng cả những bên đòi giữ và bên đòi phá.

Mid Tower Grand tại Tsukishima là một trong nhiều dự án tái phát triển đô thị được thực hiện trên khắp Tokyo, có thời gian thực hiện kéo dài gần 10 năm với nhiều công ty, nhà thầu đến và đi
Một trong những lý do cho việc chậm trễ này là bởi nó nằm trên con phố Monja, nơi tập trung hàng loạt cửa hàng bán Monja có lịch sử lâu đời ở Tsukishima (hình ảnh con phố trước khi có MID TOWER GRAND). Điều này dẫn đến việc tốn rất nhiều thời gian để làm hài lòng tất cả các bên. Với thành phố đó là bảo tồn giá trị truyền thống, cảnh quan chung của khu vực, với người dân là sự đảm bảo kế sinh nhai (là các cửa tiệm Monja), với chủ đầu tư là khả năng sinh lời từ những căn hộ và các cửa tiệm cho thuê tại phần đế – nơi thường được các nhãn hàng lớn nhòm ngó, còn những người kinh doanh cá thể thì không đủ khả năng chi trả.
Và các kiến trúc sư đã đáp ứng các yêu cầu này bằng cách tạo ra các gian hàng ở tầng 1 có bề rộng giống với các gian hàng truyền thống – điều khá mạo hiểm ở thời đại mà các nhãn hàng đều cần không gian lớn để trưng bày sản phẩm, và tái hiện cấu trúc đường nội bộ (dựa trên những lối ngõ nhỏ truyền thống) đâm xuyên qua khu đất. Như vậy, dù rằng phần bên trên – là các căn hộ chung cư có thể chả liên quan gì đến phần đế, nhưng tổng thể công trình vẫn là sự tiếp nối của lịch sử (các kiến trúc sư bảo thế) đồng thời vẫn đảm bảo lợi ích phát triển kinh tế cho khu vực.
Ảnh trước khi hoàn công thể hiện lối vào rất nhỏ của các cửa tiệm tại công trình tái phát triển đô thị quy mô lớn này, và nó vẫn kết nối với hàng hiên vốn đã trở thành biểu tượng của con phố Monja này.
Không gian sống “nhộn nhạo” (hay nhộn nhịp?) nhỏ bé bên dưới được thay bằng không gian cao, rộng, tĩnh lặng và sang chảnh bên trên. Nhân tiện, giá một căn góc diện tích 80m2, 3 phòng ngủ tại đây rơi vào khoảng 35 tỷ tiền Việt cho ai vừa trúng Vietlot và muốn đầu tư.

Không chỉ có phần đặc (các công trình) và rỗng (các công viên) bị chồng lấn, không gian kết nối là những con đường và dòng sông cũng trải qua quá trình biến đổi tương tự.

Hebimichi(へび道)hay “con đường rắn” ở Yanaka Ginza có hình dáng ngoằn ngoèo rất đặc trưng
Dạo bước trên tuyến đường này, ta sẽ gặp một cơ số những căn nhà cũ quay lưng hướng về phía con đường (mặt tiền ở hướng ngược lại) lý do là bởi …..
nó được cống hóa từ một đoạn sông cũ tồn tại từ thời Edo (ngày xưa dân Nhật cũng đổ rác ra sông như ai, và có lẽ lý do người ta phải cống hóa là vì con sông đã bị Tô Lịch trong thời gian dài) hình dáng mới của con đường không thay đổi nhiều so với con sông cũ khiến cho nó trở nên ngoằn ngoèo như hiện tại.
Sông Shibuya tại quận Shibuya đã từng là một con sông ô nhiễm nhưng đã được cống hóa để tạo ra con phố mà ngày nay được gọi một cách trừu mến bằng cái tên cat street (ảnh trên là khu vực GYLE) – nghe đồn là do khu này nhiều mèo, nhưng khi tác giả đi dạo thì chủ yếu thấy toàn là chim.
Tokyo của những năm 50 60 của thế kỷ trước cũng gặp phải những vấn đề ô nhiễm môi trường đô thị do lối sống sinh hoạt và ý thức của người dân, nên sự “sạch đẹp” mà chúng ta vẫn ca tụng Nhật Bản ngày hôm nay là kết quả của một quá trình kéo dài hàng chục năm cải thiện cả về hạ tầng và lối sinh hoạt, ý thức của người dân.
Cat street ngoằn ngoèo và có hình dáng tương đồng với “con đường rắn” ở Yanaka Ginza, chỉ khác là sang chảnh và trẻ trung hơn.
Đoạn sông Shibuya không bị cống hóa chảy xuyên ga khu vực ga Shibuya dưới chân tòa nhà cao tầng mang tên gọi Shibuya Stream – lấy cảm hứng từ vị trí tọa lạc của công trình và …
phần facade sử dụng các panel kim loại trắng tái hiện sự chuyển động của dòng chảy.
Cứ như vậy những lớp lịch sử cũ liên tục được tái hiện theo một cách mới vào trong đô thị hiện đại.

Chiết xuất những yếu tố của quá khứ, lịch sử để chuyển hoá thành ngôn ngữ trong kiến trúc là một trong những luật bất thành văn trong thiết kế kiến trúc tại Nhật. Những công trình không có sự liên hệ đến không gian xung quanh và các lớp lịch sử, context sẵn có dường như không có nhiều đất sống tại Nhật. Ngoại trừ những con phố mua sắm sầm uất có sự thống trị của tiền bạc và các thương hiệu Phương Tây, những công trình được thiết kế tại Nhật đều ít nhiều lấy cảm hứng từ câu chuyện phía sau mỗi khu đất.

Mỗi khu đất là một công trình, context lịch sử và mối quan hệ với các công trình xung quanh dường như không phải là yếu tố tiên quyết tại Mỹ, mà tính biểu tượng, sự đặc biệt, hình dạng thể hiện sức nặng của đồng tiền trong xã hội tư bản thuần khiết mới là yếu tố ảnh hưởng đến công trình kiến trúc – Walt Disney concert hall – Frank Gehry – 2003
Prada Aoyama – Herzor & de Meuron – 2003 – được coi là công trình mở đường cho các kiến trúc sư phương Tây thực hiện các công trình tại Nhật. Công trình (nghe nói là) đã được linh động khá nhiều về mặt luật pháp để có thể được tiến hành xây dựng. Với giá thành xây dựng trên 10 tỷ yên – khoảng hơn 2000 tỷ VNĐ (nghe đâu mỗi tấm kính hình kim cương có giá trị từ 5-10 tỷ VNĐ mỗi tấm – nên mọi người đi thăm nhớ sờ nhẹ nhàng kẻo lỡ may xước ra đấy lại không có tiền đền) công trình là một trong những Flagship shop đắt nhất từng được xây dựng ở nước ngoài của Prada.
Với vai trò là người đại diện giúp Prada tiến vào thị trường Nhật, công trình đứng tách biệt với các công trình còn lại bằng một khoảng không, bọc kính toàn bộ và tự bản thân nó trờ thành một “tấm biển quảng cáo” đúng nghĩa, hoàn toàn không liên quan gì đến context, lịch sử của khu vực mà nó được xây dựng.
Kết cấu bao che chịu lực, đồng thời cũng là lớp vỏ bọc trang trí của Aoyama Prada.
Công trình là một trong những kiệt tác của kiến trúc đương đại, dù vậy cho đến nay, đa phần các công trình tại Nhật của các kiến trúc sư phương Tây chủ yếu vẫn là các công trình thương mại, các kiến trúc sư Nhật Bản vẫn luôn luôn thắng thế ở những công trình cần có sự thấu hiểu context, hiện trạng khu đất một cách sâu sắc, câu chuyện điển hình nhất là …
Cuộc thi công trình sân vận động quốc gia Nhật Bản giữa Zaha Hadid và các kiến trúc sư Nhật Bản. Phương án của Zaha Hadid cho sân vận động quốc gia Nhật Bản thể hiện chất cá nhân kiệt xuất của Zaha Hadid và được đánh giá rất cao bởi các kiến trúc sư có cá tính mạnh khác trong hội đồng giám khảo như Tadao Ando
Nhưng Kuma Kengo mới là người thắng chung cuộc bằng thiết kế với “gỗ” và “tự nhiên” – những yếu tố truyền thống trong kiến trúc Nhật. Tất nhiên, việc lựa chọn phương án cuối cùng không chỉ đơn thuần dựa trên việc có hoà hợp với context hay không. Câu chuyện về sân vận động quốc gia sẽ cần một bài viết dài khác để nói tới với rất nhiều những góc khuất thú vị đằng sau.

Càng xây, các lớp lịch sử vừa mới lẫn cũ càng bị chồng lấn, tạo nên những công trình có hình dáng vật lý “mới” nhưng hình dáng ý niệm “cũ” hay là một cách gọi khác của truyền thống.

Tựu chung, với một dân tộc ưa sự đồng nhất và có tính cộng đồng cao như Nhật Bản, lịch sử đã đang và luôn là một yêu cầu gần như bắt buộc trong thiết kế kiến trúc, tất cả những đề xuất trong thiết kế đều phải được diễn giải có lý do và căn cứ cụ thể. Hình dáng có thể xuất phát từ cảm tính lúc ban đầu, nhưng cuối cùng nó luôn được nhào nặn một cách khéo léo để được gắn ghép với một chi tiết, context lịch sử hay tự nhiên bất kỳ tại khu đất, làm cho kiến trúc Nhật Bản trở nên giàu tính bản địa và có chất riêng khó lẫn khi đặt cạnh những nền kiến trúc hiện đại khác trên thế giới.

5. Cây trong rừng beton

Khu rừng beton Tokyo

Khó có thể nói Tokyo là một đô thị “xanh”, ngược lại Tokyo từ lâu đã nổi tiếng với biệt danh khu rừng beton của mình với diện tích xanh trên đầu người chỉ vào khoảng 11m2, tương đương Hà Nội.

Với 11m2/ng diện tích xanh trên đầu người của Tokyo chỉ hơn mức khuyến nghị tối thiểu 9m2/ng và còn xa mới tới mức lý tưởng 50m2/ng mà WHO đề xuất

Dù nhiệt độ trung bình vào mùa hè không cao hơn Hà Nội (nóng nhất là 31 vào tháng 8 so với 34 của Hà Nội), nhưng bức xạ từ những bề mặt beton dày đặc trong đô thị và sự thiếu hụt cây xanh khiến cho mùa hè ở Tokyo trở thành cực hình cho những người đi bộ – vốn đã nóng vì phải đi bộ, khác với Việt Nam vì dù sao vẫn có tí gió khi đi xe máy.

Luật quy hoạch đô thị ra đời năm 1919 đã xác định vai trò quan trọng của công viên, các mảng không gian xanh trong đô thị Tokyo. Dưới sự ảnh hưởng của lý thuyết quy hoạch đô thị mới với vành đai xanh và các đô thị vệ tinh được thực hiện tại Amsterdam năm 1924, đến năm 1932 một ủy ban đã được thành lập để thực hiện quy hoạch không gian xanh tại Tokyo, đồ án quy hoạch không gian xanh Tokyo trong vùng bán kính rộng 50km tính từ hoàng cung với tổng diện tích khoảng 962.059ha, vẫn là đồ án quy hoạch đô thị có quy mô lớn nhất Nhật Bản cho đến tận ngày nay.

Đồ án được xác lập chính thức vào năm 1939, với vành đai xanh, hệ thống các công viên và tuyến đường xanh. Với việc kỷ niệm 2600 năm ngày thành lập đế quốc Nhật Bản vào năm 1940, 6 “đại công viên” với diện tích mỗi vùng lên tới 100ha được bổ sung vào đồ án. Việc thu hồi đất (mua lại) để xây dựng được bắt đầu vào năm sau đó 1940, và đến năm 1942, 22 công viên nhỏ khác tiếp tục được bổ sung, tạo thành hệ thống 28 công viên được phân bố rải rác trong các vùng có bán kính rộng 20, 50, 70, 100km tính từ hoàng cung.

Đồ án quy hoạch không gian xanh Tokyo với hệ thống các công viên thể dục, công viên thường, công viên tự nhiên, vành đai xanh và các tuyến đường xanh

Dù vậy, việc thu hồi đất chỉ thực sự được tăng tốc dưới sự ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ 2. Tokyo cần những khoảng đất phòng không để người dân có thể lánh nạn sau các cuộc không kích, và tránh lửa lan rộng trong các vùng đô thị khi thành phố bị phá hủy. Dưới sự điều động của bộ quốc phòng, rất nhiều khu vực đã nhanh chóng bị thu hồi làm đất phòng không và hầu hết những khu vực này (những đốm đen) sau chiến tranh đã trở thành các công viên.

Ngoài các khoảng xanh đã được quy hoạch từ trước, Tokyo còn có thêm các vùng phòng không (các chấm đen trong bản đồ) tạo thành những “lỗ hổng” trong đô thị và trở thành những không gian xanh quan trọng của Tokyo sau này.

Năm 1945, Tokyo hứng chịu một trong những đợt không kích tàn khốc nhất trong lịch sử, khiến hơn 100,000 người thiệt mạng và hơn 1 triệu người mất nhà cửa, chỉ chưa đầy 20 năm sau trận động đất vùng Kanto phá hủy hơn một nửa Tokyo. Thời điểm này, hơn 50% số xí nghiệp và nhà xưởng được dàn trải và phân tán trong các khu dân cư khiến cho nó trở thành mục tiêu cho những quả bom cháy từ máy bay Mỹ.

Quy hoạch vành đai xanh Tokyo được lấy làm nền tảng cơ sở cho bản quy hoạch phục hưng Tokyo sau chiến tranh năm 1946, phần lớn số đất công viên ở vòng ngoài lúc này được bán lại cho người dân để làm nông nghiệp để đối phó với việc thiếu hụt lương thực sau chiến tranh. Ngày nay chỉ cần đi tàu khoảng 30 phút rời xa trung tâm Tokyo là ta có thể bắt gặp những miếng đất nông nghiệp nhỏ còn sót lại nằm giữa những tòa chung cư mới.

Quy hoạch vùng thủ đô Tokyo 1958 dựa trên bản quy hoạch vùng thủ đô London 1944, ta có thể thấy rõ vành đai xanh để gìn giữ hệ sinh thái và chống hiện tượng đô thị hóa tự phát bao quanh khu đô thị trung tâm, cùng với đó là các đô thị vệ tinh, nơi cung cấp nhà ở và môi trường sống “xanh” cho những người dân đi làm bên trong khu đô thị trung tâm
Nhìn lại đồ án quy hoạch chung Hà Nội tầm nhìn đến 2050 thì cũng không có gì khác mấy, vẫn là hệ thống vành đai xanh và các đô thị vệ tinh được bố trí quay xung quanh trung tâm đô thị lịch sử.
Và tất cả đều được bắt nguồn từ ý tưởng thành phố vườn của Ebenezer Howard, nếu có một ý tưởng nào có khả năng thay đổi thế giới theo nghĩa đen, thì đây chính là ý tưởng đó.

Vậy đống cây xanh đó ở đâu trong đống beton đô thị của Tokyo? … Câu trả lời đơn giản có thể chỉ là nó vẫn ở đó. Rừng beton là một cách nói khá tiện cho tất cả những ai ghé qua Tokyo một thời gian ngắn, trèo lên nóc những tòa nhà sang trọng và ngắm nhìn thành phố, góc nhìn mà chỉ có thể chiêm ngưỡng được những tòa nhà có tỷ lệ “béo lùn” (để chống động đất) được xếp sát cạnh nhau (để tăng mật độ và khả năng sử dụng hiệu quả của công năng) trong những ô block lớn và không được quy hoạch chỉnh chu (để giữ cấu trúc “quy hoạch theo tự nhiên” hay còn gọi là cấu trúc làng xã truyền thống).

Tỷ lệ không gian xanh tính trên toàn vùng Tokyo từ năm 2013-2018 giảm một cách “rùng rợn” là 0.5%, đối nghịch với hình ảnh rừng beton thường được các nhiếp ảnh gia phương Tây ưa thích khi miêu tả đô thị Tokyo.

Quả thật tỷ lệ không gian xanh trong Tokyo đã bị suy giảm, tuy nhiên con số thực tế được báo cáo lại không đến mức độ được miêu tả như trong hình ảnh “khu rừng beton”. Hơn nữa, bản thân “không gian xanh” cũng tồn tại ở vô vàn trạng thái khác nhau, những chậu cây ven đường, cây xanh trên mặt đứng hay nóc các công trình, cây xanh trong tiệm cafe, văn phòng …etc. Đa phần những người sống và làm việc ở Tokyo sẽ luôn được bao quanh bởi không gian xanh không thể đo đếm này dù là ở nhà, trên đường, hay ở tại chính nơi làm việc.

Do đó, không gian xanh là một bức tranh luôn được vẽ bởi 2 phần: thống kê được và không thống kê được, hay còn nói cách khác là không gian xanh được kiểm soát bởi chính quyền, và không gian xanh được người dân tạo ra. Nếu chúng ta muốn có một đô thị xanh, ngoài câu hỏi về quy hoạch và trách nhiệm của chính quyền, bản thân mỗi người cần phải có sự đóng góp của bản thân cho cộng đồng, mà điều này thì người Nhật đặc biệt giỏi.

Một công trình nhà dân mà tác giả tình cờ gặp khi lang thang ở Shibuya, thay vì bức tường beton, ranh giới giữa trong và ngoài được làm mềm bằng những khóm cây
và một dòng suối cảnh quan ở bên dưới, xa xa là giày dép của chủ nhà vứt luôn bên ngoài như thể sẽ không ai lấy (mà quả thực không ai lấy thật, niềm tin của xã hội được bắt đầu bằng việc mạo hiểm đặt niềm tin vào nơi những người xa lạ)
Những chậu cây được bày bên ngoài một góc phố tại Kagurazaka, hình ảnh có thể thấy ở rất rất nhiều khu dân cư tại bất cứ đâu trên khắp Tokyo
Đây cũng là không gian ưa thích để chủ nhà show cho mọi người thấy những đồ trang trí lặt vặt phần nào thể hiện được tính cách của mình.
Nhờ có tí cây mà chủ nhà không bị phạt tội vứt xe đạp cũ ra ngoài công cộng, mà lại còn được khen là có tâm hồn lãng mạn

Kiểu không gian xanh tự phát này xâm chiếm mọi nơi có thể ở bên dưới công trình, nhưng tính mặt đứng trở lên nóc tòa nhà là một nơi khá khó khăn. Người Nhật rất yêu thích thiên nhiên và cây xanh, nhưng nếu phải chọn giữa việc trồng cây xanh lên nóc hay mặt đứng tòa nhà và phải dọn dẹp chăm sóc những thứ khó kiểm soát như vậy (đơn giản là nếu lá cây rụng sang nhà bên cạnh cũng là một nỗi khó xử đối với họ), hay việc trồng ở những nơi mà họ có thể kiểm soát được, đương nhiên là họ sẽ chọn cách thứ hai.

Một hình ảnh quen thuộc của Tokyo khi nhìn từ bên trên, nóc của các tòa nhà luôn là nơi đặt các thiết bị thông gió, hệ thống nước cho công trình.
Bể bơi và cây xanh trên mái (Keangnam Hà Nội) chẳng còn là điều gì mới với người dân Việt Nam, nhưng lại là một điều xa xỉ ở Nhật hay tại Tokyo. Vấn đề đầu tiên luôn được nêu ra với các kiến trúc sư và kỹ sư Nhật Bản là bảo dưỡng, cộng với việc các tập đoàn bất động sản Nhật hầu như không có hứng thú cho những ý tưởng mạo hiểm khi mà những gì họ làm ra vẫn bán tốt.
Tất nhiên không phải lúc nào cũng vậy, cây xanh vẫn luôn tìm được cách của nó để len lỏi vào công trình một cách không kiểm soát – mặt sau một công trình văn phòng gần công viên Miyashita tại Shibuya
Hoặc được kiểm soát – bệnh viện Tokyu tại ga Ookayama
Cây xanh trên mái tòa nhà Tokyu Plaza tại phố đi bộ Omotesando
Một màu xanh đối lập với những nóc nhà xung quanh, nơi này nhanh chóng trở thành điểm đến ưa thích của giới trẻ Tokyo trong những ngày không nắng to và không mưa to.

Còn không gian bên trong công trình thì sao? Bên trong thì đơn giản rồi, mua cây đặt vào là xong, hoặc cầu kỳ hơn một chút thì có thể thiết kế tổng thể nội thất và cây xanh để có một không gian hài hòa hơn. Những quảng cáo về một không gian sống hoà hợp với thiên nhiên đang tràn lan, những văn phòng, quán cafe, căn hộ cá nhân tràn ngập không gian xanh đã chẳng còn là điều gì hiếm thấy, “xanh” đang trở thành một từ khóa để biến một công trình lỗi thời trở nên “hợp thời” hơn, có cảm giác người ta đã lạm dụng nó đến mức ngày nay mỗi khi có một ai đó đề cập đến một công trình “xanh”, chúng ta không còn biết họ đang nói đến một công trình tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng, hay một công trình có nhiều cây xanh.

Không gian làm việc “xanh” tại tổng thầu Takaneka Nhật Bản, nhìn không khác một quán cafe là mấy
Một trang web tìm nhà khá nổi tiếng ở Nhật, màu xanh chiếm một khoảng nhất định trong mỗi bức ảnh quảng cáo về căn phòng.

Trong trường hợp quá chật (như một lẽ ngẫu nhiên thường gặp tại Tokyo) không thể đặt được? Thì ta mượn, người Nhật cũng đặc biệt giỏi trong việc mượn, nếu không muốn nói là một trong những dân tộc giỏi nhất. Cây xanh, từ một thứ ở bên ngoài cửa sổ (nay đã được thay thế bằng những bức tường beton) người ta đã mang nó vào gần ngay sát cạnh, biến nó thành những đồ trang trí sang chảnh và là tiêu chuẩn cho một thời đại mới thân thiện hơn với môi trường.

Shakkei (借景)hay mượn cảnh, là thủ pháp truyền thống của kiến trúc Nhật Bản để mang thiên nhiên vào trong phòng
Nhưng khi bốn xung quanh là những bức tường của nhà hàng xóm, họ phải tự tạo cho mình một chút thiên nhiên để “mượn”
“Mượn cảnh” trong căn phòng “hộp diêm” 7m2 mà tác giả từng sống.
“Mượn cảnh” tại căn hộ có chủ đề “trà” trong công trình Dancing Trees, Singing Birds ở giữa trung tâm Tokyo của Hiroshi Nakamura 2007. Mỗi căn hộ trong công trình đều có chủ đề riêng của mình và nghe đồn giá thuê giao động từ 120 – 400 triệu vnđ một tháng.

Các mảng xanh trong Tokyo đang suy giảm, đó là sự thực và người ta đã và đang tìm cách cải thiện nó. Người ta tạo ra các quy tắc buộc những công trình quy mô lớn phải có những khoảng xanh, hoặc trao thêm quyền lợi về thuế và hệ số sử dụng đất (công trình mất đất cho khoảng xanh nhưng sẽ được xây cao hơn) mỗi khi một công trình nào đó “cống hiến” đủ một diện tích xanh nhất định cho cộng đồng. Những quy tắc này đã và đang phát huy tác dụng, khi chủ đầu tư sẵn lòng muốn gia tăng hệ số sử dụng đất, đồng thời thông qua khoảng “xanh” cống hiến cho cộng đồng, là một kênh PR hoàn hảo, làm gia tăng giá trị và vị thế của công ty trong mắt công chúng.

Toranomon Hills với khoảng xanh
Là một không gian sinh hoạt cộng đồng hữu ích trong đô thị.
Otemachi Tower hay còn gọi là Otemachi no mori (khu rừng Otemachi) thậm chí còn áp dụng những quy tắc này một cách cực đoan hơn
Khi làm nguyên cả “khu rừng” với một hệ sinh thái riêng (cho phép sự sinh sống của động vật ngoại lai) ở giữa đô thị
Điều này đồng nghĩa muỗi ở đây cắn sẽ đau hơn muỗi ở Toranomon Hills, nhưng về tổng thể khí hậu sẽ mát và ôn hòa hơn.
Xanh hóa các bức tường cũng đã trở thành một tiêu chí đánh giá mức độ phủ xanh cần thiết mà mỗi công trình quy mô lớn cần đạt được khi xây dựng trong Tokyo, diện tích bề mặt xanh hóa sẽ được cộng dồn với diện tích cây xanh thực tế trong khu đất để đạt được những thông số mà mỗi quận, thành phố lại có một yêu cầu khác nhau về cảnh quan từng khu vực
Nhưng đôi khi nó lại mang lại tác dụng ngược là lấy mất những khoảng xanh thực tế (có khả năng tạo bóng râm) và mang nó lên những mặt đứng có ít ảnh hưởng, tác dụng tích cực tới cảnh quan xung quanh hơn, ví dụ như để che đi hệ thống thiết bị mặt sau của công trình tại khu vực bãi đỗ xe.

Cây xanh luôn là đề tài bất tận trong kiến trúc, quy hoạch và thiết kế cảnh quan, mỗi quốc gia sẽ có một bối cảnh và cách tiếp cận của riêng mình trong vấn đề này. Với một đô thị có dân số bằng một quốc gia như Tokyo, việc cân bằng giữa cây xanh, nhà ở và các không gian cho sự phát triển kinh tế chưa bao giờ là việc dễ dàng. Đã có những lúc đất cây xanh được coi là không hữu ích cho sự phát triển kinh tế và bị lược bỏ khỏi đô thị một cách nhanh chóng để lại những hậu quả về môi trường sống và môi trường đầu tư mà phải trải qua hàng chục năm người ta mới nhận ra.

Ngày nay xu hướng đảo ngược lại đang diễn ra, ở đâu có cây xanh, ở đó giá trị bất động sản và dịch vụ đều tăng theo nhanh chóng, con người đã chán phải nhìn những khối beton lạnh lẽo ngày này qua ngày khác, các công ty phát triển bất động sản Nhật bắt đầu rón rén (và đau xót) cắt những phần không gian mà đáng ra có thể dùng để xây thêm nhiều căn hộ, vào việc xây dựng những khoảng xanh trong công trình, họ đã dần nhận ra việc khách hàng – những người đã chán ngấy những bức tường beton ở văn phòng khao khát muốn có một không gian xanh như thế nào tại nơi mình sinh sống.

————————————————-

Gần đây mình tương đối bận nên số lượng bài viết sẽ giảm đi, nhưng bù lại hy vọng việc có thời gian chau chuốt sẽ làm gia tăng chất lượng và độ sâu của bài viết hơn.

– Tuan Nguyen Quang –

Đăng bởi Tuan Nguyen Quang

A hopeless observer wandering through the world

Bình luận về bài viết này