Văn hóa Senpai-kouhai

Nếu đã từng có cơ hội tiếp xúc với văn hoá Nhật thông qua phim ảnh hay những bộ truyện tranh chắc mọi người cũng không còn lạ gì với văn hóa senpai-kouhai (tiền bối-hậu bối) của Nhật nữa.

Về cơ bản tiền bối là những người đi trước, có trách nhiệm chăm lo và hướng dẫn thế hệ kế cận, chịu trách nhiệm với những điều mình truyền đạt. Đổi lại cho sự chăm nom đó, hậu bối là những người có trách nhiệm tôn trọng và dõi theo những người đi trước, nghe theo chỉ dẫn đôi khi có phần máy móc.

Điều này thực ra ở xã hội nào cũng có, nhưng nếu nâng tầm trở thành văn hóa và chi phối toàn bộ đời sống xã hội thì có lẽ chỉ có thể nhìn thấy ở Nhật Bản.

Về nguồn gốc của văn hóa này thì hiện có rất nhiều nguồn được đưa ra nhưng hầu hết mọi người đều nhất trí nó là một hình thức bắt nguồn từ các luân lý và đạo đức từ Trung Quốc cổ đại đến Nhật Bản (đặc biệt là Nho giáo) và lan rộng đến các khía cạnh khác nhau của triết học Nhật Bản. Mối quan hệ trên – dưới này là một hệ thống phân cấp theo chiều dọc – 上下関係 (quan hệ trên dưới) nhấn mạnh trách nhiệm – quyền lợi – nghĩa vụ của các cá nhân trong tập thể, loại bỏ mọi hình thức cạnh tranh nội bộ và tăng cường sự gắn kết của tổ chức.

Điều này trái ngược với sự cạnh tranh, loại bỏ và vươn lên của các nền văn hóa phương Tây, nơi mà người ta không ngần ngại đưa ra những ý kiến trái chiều để giúp tổ chức tốt hơn, và cũng là lý do những người có năng lực chưa chắc đã thành công hơn những người có khả năng gắn kết và có “bộ rễ” – mối quan hệ tốt đẹp với những người khác trong tổ chức như tại Nhật Bản.

Theo thời gian, cơ chế này cho phép chuyển giao kinh nghiệm và kiến ​​thức, mở rộng mối quan hệ quen biết của mọi người trong tổ chức, tạo thành một khối gắn kết có quan hệ ràng buộc. Sẽ là rất tuyệt vời nếu có thể hòa mình vào trong tổ chức, tiếp nhận kinh nghiệm và sự thông thái của người đi trước, kiến thức mới mẻ và sự nhiệt huyết của người đi sau. Tuy vậy với những ai không thể kết nối được với tổ chức – điều đồng nghĩa với việc nhận một bản án tử hình về mặt xã hội – điều chờ đón họ là bốn bức tường trong căn phòng cá nhân của mình và chuỗi ngày dài làm những công việc bán thời gian không yêu cầu nhiều về sự giao tiếp.

Hikikomori (引きこもり – dịch thô ra là kéo và nhốt vào trong cũi) là hiện tượng không hiếm tại Nhật khi một cá nhân tự cô lập bản thân với xã hội.
Theo tài liệu năm 2020 của bộ y tế và phúc lợi Nhật thì nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng Hikikomori này là “không xử lý tốt được các mối quan hệ ngoài xã hội” (chiếm 80.1%)

Nó phần nào giải thích về văn hóa 内ー外 ( Uchi-soto “trong”-“ngoài”) của người Nhật, tại sao người Nhật thích đi theo nhóm, thích mặc đồng phục, thích xếp hàng, tránh đối đầu, sử dụng rất nhiều loại kính ngữ khác nhau cho từng đối tượng trong tổ chức, các cuộc họp thường không phải là nơi tranh cãi mà là nơi thống nhất các ý kiến, những quyết định đã được quyết định từ trước, xin việc sẽ dễ hơn rất nhiều nếu có người trong tổ chức, hoặc người có mối quan hệ nhất định giới thiệu etc… Và đặc biệt là người Nhật – như một dân tộc, một tổ chức cao nhất, thuần nhất, rất khó tiếp nhận những người ngoài (gaijin) như chúng ta.

Người Nhật ưa sự ngăn nắp, hòa hợp, hay chỉ đơn giản là không muốn làm lệch hàng những dấu chấm mà người đi trước đã để lại?

Với việc cả nền văn hoá được xây dựng dựa trên việc tương tác giữa người đi trước – người đi sau như vậy nên không khó hiểu khi người Nhật luôn nổi tiếng với những sáng tạo “thông minh” mà chúng ta – người của những quốc gia còn lại khó có thể nghĩ tới vì đơn giản là trong bối cảnh văn hóa của chúng ta không thúc đẩy người ta cần phải có những sáng tạo như vậy.

Một ví dụ đơn giản là việc xới cơm, muôi cơm sẽ bị dính qua các lần xúc và gây ra sự khó chịu cho người đến sau.
Để giải quyết vấn đề này, người Nhật nhúng muôi cơm vào một bát nước sau mỗi lần xúc và thế là voila, cả làng đều vui vẻ.

Thời gian của mỗi người Nhật không đọng lại tại vị trí của họ mà vươn dài ra tận về sau, họ luôn làm việc với suy nghĩ về việc người tiếp theo sẽ đón nhận thành quả của họ như thế nào, việc có một cái nhìn dài hạn, hạn chế thậm chí loại bỏ chủ nghĩa cá nhân là yêu cầu tiên quyết trong việc xử lý công việc trong tập thể.

Chẳng thế mà Nhật Bản cũng là quốc gia nổi tiếng với các doanh nghiệp có tuổi đời cả ngàn năm (40% số doanh nghiệp tuổi đời trên 100 năm trên thế giới nằm tại Nhật Bản), và hoàng gia Nhật cũng là gia đình có dòng máu thuần khiết nhất khi chưa từng bị thay thế trong suốt 2300 năm qua dù trải qua rất nhiều chính biến (ở các quốc gia khác, việc đầu tiên các vị vua cần làm khi đổi ngôi là tận diệt những mầm mống, hậu duệ của triều đại cũ). Chính là bởi mục tiêu cuối cùng là truyền cho thế hệ kế tiếp như một cuộc chạy tiếp sức đường dài, chứ không phải là cố gắng toả sáng rực rỡ nhất có thể trong thời đại của mình.

Kiến trúc – nơi mà sự sáng tạo cá nhân, cái tôi được coi trọng hơn hết thảy cũng không nằm ngoài dòng chảy văn hóa của toàn xã hội này.

Khác với nền kiến trúc lâu đời ở Châu Âu, khi mà tên tuổi của các kiến trúc sư bắt đầu được nhắc đến và ghi nhớ nhiều hơn từ thế kỷ 15 sau khi Filippo Brunelleschi chiến thắng đồ án cải tạo mái vòm nhà thờ thánh Mary tại Florence, tại Nhật các kiến trúc sư chỉ thật sự được nhắc đến với tư cách một cá nhân sáng tạo nhiều hơn bắt đầu từ thời kỳ Minh Trị.

Với tình thế cấp bách đòi hỏi một sự đổi mới triệt để để có thể bắt kịp các cường quốc phương Tây, trong đầu thời kỳ Minh Trị, rất nhiều nhân lực ưu tú được gửi sang các quốc gia như Anh và Hà Lan để đào tạo. Những kiến trúc sư đầu tiên như Tatsuno Kingo (học trò ưu tú của Josiah Conder) đã được gửi sang các quốc gia phương Tây học tập, khi trở về đã trực tiếp tham gia thiết kế, xây dựng những công trình đầu tiên đặt nền móng cho kiến trúc hiện đại (nổi bật là công trình nhà ga Tokyo), đồng thời tạo lập nên bộ môn lịch sử kiến trúc, tiêu chuẩn hóa chương trình giảng dạy tại các khoa thiết kế kiến trúc, thành lập hội kiến trúc Nhật …. đã góp phần trực tiếp đào tạo nên những thế hệ kiến trúc sư của Nhật sau này.

Josiah Conder (1852 – 1920) kiến trúc sư người Anh, được chính phủ Minh trị thuê làm giáo sư tại trường đại học kỹ thuật đế quốc Nhật – tiền thân của khoa công trường Tokyo ngày nay – thường được coi là cha đẻ của nền kiến trúc hiện đại Nhật Bản khi ông đã trực tiếp đào tạo lớp kiến trúc sư hiên đại đầu tiên như Tasuno Kingo hay Katayama Toukuma.

Bài viết sẽ không đi sâu gọi tên chỉ mặt từng kiến trúc sư từ thời Conder trở lại nhưng về cơ bản, mối quan hệ giữa các thế hệ kiến trúc sư Nhật giống như một cây phả hệ.

Những kiến trúc sư nổi tiếng hiện tại đều đã từng làm việc (hay là hậu bối) cho một kiến trúc sư bậc thầy nào đó. Nishizawa đã từng là đệ của Toyo Ito, Toyo Ito lại là đệ của Kikutake Kiyonori, Kikutake lại là học trò và là một trong những thành viên quan trọng trong nhóm chuyển hoá luận (Metabolism) của Tange, Tange thì lại là đệ của Kunio Maekawa, Kunio Maekawa thì lại là đệ ruột của Le Corbusier… etc. Mỗi một trường phái lại có các thầy ngồi ở đầu cây phả hệ và một lớp các đệ tử theo sau, và gần như mọi đầu mối đều tựu chung và có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với Tange Kenzo, do vậy nên người ta thường nói nói Tange Kenzo là người khổng lồ bao phủ nền kiến trúc hiện đại của Nhật là vì vậy.

Tange, Kurokawa, Kikutake, Kawazoe Noboru và nhóm các kiến trúc sư tham dự buổi lễ khánh thành công trình Sky house nổi tiếng của Kikutake
Chắc chắn Tange sẽ vẫn rất nổi tiếng vì tài năng thiên bẩm của ông, nhưng sẽ rất khó cho ông có thể đạt được vị trí trong lịch sử như hiện tại nếu thiếu sự giúp đỡ của những kiến trúc sư đàn em. Ngược lại những đệ tử của ông hưởng lợi rất lớn vì được làm việc trực tiếp với Tange và nhận được rất nhiều những sự hỗ trợ về chuyên môn cũng như truyền thông khác vì nằm trong vòng tròn quan hệ của Tange.

Tại các trường đại học về kiến trúc, dựa vào những mối quan hệ mà mình có, các sinh viên khoá trên luôn tranh thủ sự giúp đỡ của sinh viên khoá dưới cho đồ án tốt nghiệp của mình. Việc một senpai quản lý một nhóm 3 4 kouhai làm mô hình cho mình là chuyện khá bình thường, nhờ vậy mà những họ học được những bài học đầu tiên về quản lý tiến độ dự án, đồng thời đi kém với nó là cách phối hợp, sử dụng tài năng của các thành viên trong nhóm. Nhờ đó mà đồ án tốt nghiệp của sinh viên Nhật thường có độ hoàn thiện rất cao vì nó thường là công sức của cả một tập thể chứ không phải là một cá nhân đơn lẻ hay một group work tập hợp nhiều cá nhân ngang hàng – không có mối quan hệ trên dưới rõ rệt.

Đổi lại, Kouhai sẽ nhận được tiền công là những hộp bento – cơm hộp, kinh nghiệm làm đồ án tốt nghiệp, cũng như là một ưu thế nhất định nếu senpai của mình vào được vào một công ty hàng đầu nào đó mà mình cũng muốn xin vào. Số lượng những công ty đầu bảng như vậy không nhiều, và sinh viên khi đi xin việc thì thường gửi CV như rải thảm vào tất cả các công ty.

Hồi mình làm đồ án tốt nghiệp, hình ảnh quen thuộc trong lab là mình lụi cụi từ cắt mô hình đến làm bản vẽ so với nhóm kohai đến và đi, party bento ở bàn bên, dù sau đó mình cũng rất may mắn nhờ được những sinh viên Việt Nam khóa sau và những “Kohai” người nước ngoài khác trong lab
(Hình minh họa vì không chụp trộm được)

Tại các công ty dù thuần tư vấn thiết kế hay nhà thầu xây dựng, việc xây dựng thế hệ kế cận được giao cho những người trẻ năm 1~5~10 (tất nhiên là dưới sự dẫn dắt của các bác già đầu năm 15~20~30 ở trên nữa).

Những nhân viên trẻ này là những người kết nối với những sinh viên đang có nhu cầu xin việc tại các công ty, là những người trực tiếp về trường cũ tìm kiếm nói chuyện với các sinh viên, trao đổi kinh nghiệm và giúp đỡ hoàn thiện những hồ sơ, porfolio, hướng dẫn đường đi nước bước để họ có thể xin vào công ty mình một cách suôn sẻ.

Quá trình này thường được bắt đầu sớm nửa năm từ trước khi kỳ tuyển dụng chính thức tại Nhật được bắt đầu vào tháng 4. Việc bắt đầu từ sớm giúp cho các công ty có thể tuyển được những người xuất sắc nhất một cách nhanh chóng nhất, đồng thời giúp cho người được tuyển có một khoảng thời gian chuẩn bị nhất định trước khi vào công ty và yên tâm hoàn thành đồ án tốt nghiệp.

Do đó một sinh viên để thi được vào một công ty thường sẽ trải qua những vòng sàng lọc thông qua senpai, senpai của senpai và cuối cùng là sếp của bộ phận nhân sự của công ty đó (cũng là senpai của ai đó). Kết quả (hay hậu quả?) là những công ty lớn thường là nơi tập trung của nhóm cựu sinh viên của các trường đại học lớn, thế hệ trước tuyển thế hệ này, và thế hệ này tuyển thế hệ tiếp theo và cứ thế tiếp nối tạo nên một môi trường đồng nhất về chất lượng và văn hoá trong công ty.

OB・OG訪問 hay đi thăm hội trai già, gái già (Old Boy・Old Girl) trong công ty là hoạt động thường niên của các kỳ tuyển dụng và thường bị các bạn sinh viên coi nhẹ. Nhưng thực tế là ở một số công ty, hoạt động này chiếm đến 80% (nếu không muốn nói là 90%) khả năng một người có thể vào được công ty đó hay không – nó gần giống với việc shokai baito (giới thiệu việc làm thêm) mà các bạn vẫn thường làm hay nhờ làm

Tuy nhiên mặt trái của nó là những sinh viên thuộc nhóm những trường đại học ít danh tiếng hơn gần như rất khó có cơ hội chen chân vào cuộc chơi vì nhóm cựu sinh viên của trường đó trong công ty không đủ mạnh hoặc thậm chí không tồn tại. Trừ khi có thành tích học tập và hoạt động đặc biệt xuất sắc còn không thì việc gửi hồ sơ vào những công ty thấp hơn một chút là điều thực tế hơn cả.

Do vậy trong “giới thi cử” hình thành nên một nhóm những trường đại học danh tiếng và “dễ xin việc” như 旧帝大 (nhóm các trường đại học quốc lập lâu đời) hay MARCH (nhóm các trường tư thục danh tiếng trong Tokyo) etc… là những nơi mà sinh viên phải cạnh tranh quyết liệt mới có thể thi vào với áp lực: hoặc là đỗ vào một trường đại học danh tiếng có khả năng làm ở một tập đoàn lớn với nhiều cơ hội thăng tiến, hoặc là chấp nhận an phận ở một công ty nhỏ suốt phần đời còn lại.

Số lượng sinh viên được nhận của các trường ĐH top đầu tại 5 nhà tổng thầu xây dựng lớn của Nhật năm 2020. Ta có thể thấy một trong những ví dụ như trường đại học Nihon (vị trí đầu tiên) chiếm ưu thế tại công ty Taisei (màu xanh lá cây)

Nếu có ai đó hỏi rằng liệu mình có thích hệ thống này thì câu trả lời sẽ là không.

Mình luôn nói với những sinh viên khóa sau dù là người nước ngoài hay người Nhật đừng gọi mình là senpai. Lý do thì không thật sự rõ ràng cho lắm, có thể là vì mình thích mối quan hệ sòng phẳng dựa trên năng lực và phẩm chất cá nhân của phương Tây, hơn là sự tôn trọng được đặt thành luật lệ chỉ dựa vào việc anh sinh ra trước hay vào công ty sớm tôi hơn vài năm.

Hoặc có thể chỉ đơn giản chỉ bởi mình lười, kém và muốn trốn tránh trách nhiệm cần làm của một senpai,,,,, chắc vế sau đúng hơn. : )

—– Tuan Nguyen Quang —–

Đăng bởi Tuan Nguyen Quang

A hopeless observer wandering through the world

Bình luận về bài viết này